Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

Hoa Mào Gà

Hoa mào gà loài hoa mang lại nhiều kỷ niệm khó quên với tôi khi còn bé, với những bụi hoa đỏ rực giữa trời mùa hè năm đó làm sao tôi quên được, sau khi trưởng thành đi vào làm nghiên cứu về các loài hoa đẹp ở Việt Nam thì tôi lựa chọn đề tài hoa mao gà trong đời sống và trong y học dân gian, mà tôi không ngờ cây hoa bình dị đó lại có công dụng tuyệt vời đến vậy. Nếu bạn nào chưa biết về loài hoa mào gà thì chúng ta cùng nhau tìm hiểu:
Hoa mào gà
Hoa mào gà đỏ
Hoa mào gà với các tên gọi khác nhau như mồng gà, kê công hoa, kê quan hoa, kê cốt tử hoa… với tên khoa học là Celosia argentea var. Cristata Voss, thuộc họ dền - Amaranthaceae. Cây có nguồn gốc từ Tây Phi, Trung Phi và Đông Nam Á. Với hình dạng cây khá dể nhận biết như: có chiều cao khoảng từ 30 - 45cm hoặc cao hơn tùy thuộc vào chất ăn của cây. Có thân thẳng đứng hoặc phân nhành, câu thường sinh trưởng và phát triển vào mùa hè đây là thời điểm nở hoa nhiều nhất của hoa mào gà nên cây có lá hình bầu dục, màu xanh xám pha đỏ. Với cụm hoa xòe ra ở ngọn thành hình quạt, trông giống như mào con gà trống. Các hoa thật tạo thành một phần hình trụ ở phía dưới các mào đó. Hoa có nhiều màu như đỏ, vàng, cam hay hồng. Vời loài hoa mào gà có kích thước đẹp mắt thì bạn có thể trồng ở trong chậu hoặc là trồng ở ngoài vườn làm hoa trang trí thì thật tuyệt vời.

Hoa mào gà trong y học dân gian

Với các loài hoa đẹp chưa bệnh thì hoa mào gà không thua kém gì các loài hoa như hoa cứt lợn, hoa mười giờ…. với thành phần hóa học và dịch dưỡng trời ban cho loài cây đẹp cả người và nết này, với các loại axit amin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể. Theo Đông y, loại hoa này vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, dùng chữa trĩ lậu, hạ huyết, thổ huyết, huyết lân, phụ nữ băng trung, niệu huyết.
Cây hoa mào gà đỏ có đủ các chất béo, axit folic, pantothenic, vitamin B1, B2, B4, B12, C, D, E, K; các amin axit trytophan, lysine; 12 loại nguyên tố vi lượng, 50 loại men thiên nhiên, bao gồm cả enzyme và coenzyme, đặc biệt hàm lượng protein lên tới 73%. Cành và lá của cây hoa mào gà đỏ có tính năng và tác dụng tương tự như hoa, nên thường được dùng để cầm máu và chữa các chứng viêm loét.

Vườn hoa mào gà
Vườn hoa mào gà
Sau đâu là một số bài thuốc sử dụng chủ yếu của cây hoa mào gà.
Tăng huyết áp: Kê quan hoa 3-4 cái, hồng táo 10 quả, sắc uống hằng ngày.

Thổ huyết: Kê quan hoa (dùng cả cây) lượng vừa đủ, sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng tươi 15-24 g (loại khô dùng 6-15 g) hầm với phổi lợn lượng vừa đủ trong 1 giờ rồi chia ăn vài ba lần trong ngày.

Ho ra máu: Hoa mào gà trắng 30 g, trắc bá diệp 30 g, cỏ nhọ nồi 30 g, sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà tươi 24 g, rễ cỏ tranh tươi 30 g, sắc uống.

Thai lậu (có thai không đau bụng mà thỉnh thoảng ra máu): Hoa mào gà trắng sao cháy, long nhãn 10 g, sắc nửa rượu nửa nước uống.

Lỵ trực khuẩn hoặc amip: Dùng hoa mào gà sắc với rượu uống; nếu là xích lỵ (phân có máu) dùng hoa màu đỏ, bạch lỵ (phân chỉ có nhày) dùng hoa màu trắng.

Chữa viêm đường tiết niệu: bông hoa mào gà 15 g, rau đắng 15 g, thài lài 30 g, sắc nước uống.

Tiểu buốt và ra máu: Hoa mào gà trắng đốt tồn tính, mỗi ngày uống 15-20 g với nước cơm hoặc dùng hoa mào gà 15 g sắc uống.

Di tinh: Hoa mào gà trắng 30 g, kim ti thảo 15 g, kim anh tử 15 g, sắc uống.

Nhọt độc vùng gáy: Hoa mào gà tươi, nhất điểm hồng tươi và liên tử thảo tươi lượng bằng nhau, rửa sạch giã nát, chế thêm một chút đường đỏ rồi đắp vào tổn thương.

Trĩ lở loét: Hoa mào gà 3 g, ngũ bội tử 3 g, một chút băng phiến, tất cả tán bột, trộn với mật lợn rồi bôi lên vùng lở loét.

Bế kinh: Hoa mào gà tươi 24 g hầm với 60 g thịt lợn nạc, chia vài lần ăn trong ngày.

Kinh nguyệt quá nhiều: Hoa mào gà lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, uống mỗi lần 6 g khi đói với một chút rượu. Hoặc dùng bài hoa mào gà sao cháy tán bột, uống mỗi lần 6-9 g với nước ấm.

Kinh nguyệt không đều: Hoa mào gà đỏ và trắng mỗi loại 9 g sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng 15 g, long nhãn hoa 12 g, ích mẫu thảo 9 g, thịt lợn nạc lượng vừa đủ, hầm ăn, nếu có kèm khí hư thì gia thêm vỏ trắng rễ tần bì 9 g.

Chữa dạ dày, ruột chảy máu, tử cung xuất huyết, đi ngoài ra máu, kinh nguyệt dài ngày: Hoa mào gà đỏ khô 10 g, tán nhỏ, uống làm nhiều lần trong ngày, mỗi lần 1-2 g.

Thoát giang hạ huyết (lòi dom chảy máu): Kê quan hoa và phòng phong lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, vê thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống 70 viên với nước cơm khi đói. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng sao 30 g, tông lư thán 30 g, khương hoạt 30 g, tán thành bột uống mỗi lần 6 g với nước cơm.

Chữa da nổi mề đay: dùng cả cây hoa mào gà nấu nước, uống ngày 3-4 bát và rửa ngoài.

Khí hư: Nếu là bạch đới (khí hư màu trắng) dùng hoa mào gà trắng, xích đới (khí hư có màu đỏ) dùng hoa mào gà đỏ, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 9 g vào sáng sớm khi đói. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15 g, bạch truật 9 g, bạch linh 9 g, bông mã đề tươi 30 g, trứng gà 2 quả, sắc uống.

Rong huyết, rong kinh, băng huyết: Hoa mào gà khô 24 g sắc uống. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15 g, phòng phong 6 g, tông lư thán 10 g, sắc uống. Hoặc: Kê quan hoa và trắc bá diệp lượng bằng nhau, sao cháy tồn tính, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 6 g.

Mày đay: Kê quan hoa dùng cả cây sắc uống và ngâm rửa, nếu nốt sẩn màu đỏ thì dùng hoa màu đỏ, nếu sắc trắng thì dùng hoa màu trắng.
Chữa thổ huyết, khạc huyết, chảy máu cam:

Hoa mào gà tẩm với giấm, đun sôi, rồi phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, mỗi lần uống 6 g, chiêu bằng rượu ấm.

Chữa trĩ xuất huyết: hoa mào gà đỏ, phòng phong - hai thứ liều lượng bằng nhau, tán thành bột mịn, trộn với hồ gạo làm thành viên to bằng hạt đậu. Ngày uống 2-3 lần vào lúc đói, mỗi lần 7-10 viên, dùng nước cơm hoặc cháo loãng chiêu thuốc.

Chữa kiết lỵ: Hoa mào gà đỏ 15-20 g, sắc với nước uống. Nếu phân có lẫn máu thì hòa thêm đường đỏ.

Chữa tử cung xuất huyết cơ năng: hoa mào gà 15 g, mai mực 12 g, đậu ván trắng 12 g, sắc nước uống hằng ngày.

Chữa rết cắn: dùng cả cây hoa mào gà đỏ, giã nát, đắp vào vết thương.
(ThS Hoàng Khánh Toàn, Hoàng Khánh Toàn)
Với rất nhiều các bài thuốc khác nhau có thể một phần nào đó giúp đỡ sự khó khăn với bạn.
Bạn có biết các mẫu hoa cưới và hoa chia buồn mới nhất không?
Hãy đến với Admuaban.com Bạn sẽ có ngay các mẫu hoa đẹp nhất sau 1 click chuột.
Xin cảm ơn!!!!
---- Sưu Tầm----

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

Hoa kim ngân

Hoa kim ngân loài hoa của sắc đẹp và sự thanh lịch cây hoa còn có các tên gọi khác như: Ngân hoa, Nhẫn đông, Nhị hoa, Song hoa. Hoa kim ngân có tên khoa học là Lonicera japonica Thunb đây là loài hoa được xuất phát từ các nước có khí hậu ôn hòa, và thường được tìm thấy trong các khu rừng già như amazon, nên có hình dạng dễ nhận biết như: Hoa kim ngân là một loại dây leo, thân cây khá to so với các loài hoa dây leo khác thường có chiều dài như chiếc đũa từ 9 - 10m, có nhiều cành, lúc non màu xanh, khi già màu đỏ nâu. Lá hình trứng, mọc đối, phiến lá rộng 1,5-5cm dài 3-8cm. Cây có khẳ năng đặc biệt là không thay lá vào mùa đông, nên được người đời đặt cho cái tên là nhẫn đông (chịu đựng mùa đông). Hoa mẫu 5 mọc thành xim 2 hoa ở kẽ lá. Hoa thơm khi mới nở có màu trắng, về sau chuyển thành vàng. Vì trên cây cùng có hoa trắng và hoa vàng nên mới gọi là kim ngân. Tràng hoa cánh hợp dài 2-3cm chia làm 2 môi dài không đều nhau, một môi rộng lại chia thành 4 thuỳ nhỏ. Năm nhị đính ở họng tràng, mọc thò ra ngoài. Quả mọng hình cầu màu đen.
Hoa kim ngân
Hoa kim ngân

Hoa kim ngân ở Việt Nam

Hoa kim ngân ở Việt Nam thường có 3 loài chính là L. japonica, L. confusa, L. dasystila, thường được phân bố tại các rừng núi hoang tại các tỉnh như Cao bằng, Hoà bình, Thanh hoá, Lào cai… Nên ít khi được sử dụng vào công mục đích làm hoa trang trí trong các vườn gia đình.

Công dụng Y học

Hoa kim ngân thuộc vào một số ít các loài hoa đẹp trong thiên nhiên có nhiếu công dụng chữa bệnh như một số loài cây quen thuộc như: hoa cứt lơn, hoa mười giờ... Với các công dụng cụ thể như sau:
Chữa áp xe phổi giai đoạn viêm nhiễm, sung huyết khởi phát: Kim ngân, sài đất, bồ công anh, mỗi vị 20g; tang bạch bì, ý dĩ, mỗ vị 16g; kinh giới, hạnh nhân, mỗi vị 12g. Sắc uống, ngày một thang.
Chữa đinh râu (Ngũ vị tiêu độc ẩm gia giảm): Kim ngân hoa, bồ công anh, tử hoa địa đinh, mỗi vị 40g; Cúc hoa, Liên kiều, mỗi vị 20g.
Nếu sốt cao, tại chỗ sưng đau nhiều thêm thạch cao 40g; Hoàng cầm, Chi tử sống, Đan bì, mỗi vị 12g; Hoàng liên 8g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa viêm phổi trẻ em: Kim ngân hoa 16g; Thạch cao 20g; Tang bạch bì 8g; Tri mẫu, Hoàng liên, Liên kiều, Hoàng cầm, mỗi vị 6g; Cam thảo 4g. Sắc uống.
Chữa viêm phẩn phụ cấp tính: Kim ngân, Liên kiều, Tỳ giải, Ý dĩ, mỗi vị 16g; Hoàng bá, Hoàng liên, Mã đề, Nga truật, mỗi vị 12g; Uất kim, Tam lăng, mỗi vị 8g, Đại hoàng 4g. Sắc uống ngày một thang.
Trị chứng béo phì kèm cao huyết áp, rối loạn lipid máu thuộc thể vị nhiệt (triệu chứng hoa mắt, chóng mặt, nặng đầu, mỏi tay chân, khát nước): Lấy hoa Kim ngân, hoa Cúc, Sơn tra mỗi vị 10 gr, hãm khoảng 20 phút với nước sôi uống thay trà trong ngày.
Chữa sốt xuất huyết: Kim ngân hoa, rễ cỏ gianh, mỗi vị 20g; cỏ Nhọ nồi, hoa Hoè, mỗi vi 16g; Liên kiều, Hoàng cầm, mỗi vị 12g; chi tử 8g. Sắc uống gày một thang. Nếu khát nước, thêm Huyền sâm, Sinh địa (mỗi vị 12g); sốt cao, thêm Tri mẫu 8g.
Chữa áp xe phổi giai đoạn toàn phát: Kim ngân 20g; Hoàng đằng, Ý dĩ, mỗi vị 16g; Liên kiều, Hoàng liên, Đào nhân, mỗi vị 12g; đình lịch tử 8g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa bệnh tổ đỉa: Bạch ứng hoàn (chuyển thành thang) gia giảm gồm: Kim ngân hoa 16g, Quy vĩ 16g, Liên kiều 12g, Hoè hoa 8g, Thương truật 12g, quả Ké 12g, Hoàng bá 8g, Đại hoàng 6g, Hạ khô thảo 12g, Thổ phục linh 12g, Sài đất 8g, Bồ kết (đốt tồn tính, bỏ hạt). Ngày uống 3 lần cách xa bữa ăn 30 phút, uống 2 ngày 1 thang.
Chữa sởi: Hoa kim ngân 30g, cỏ Ban 30g. Dùng tươi, giã nhỏ, thêm nước, gạn uống. Có thể phơi khô, sắc uống.
Chữa mụn nhọt: Tiên phương hoạt mệnh ẩm gồm Kim ngân hoa 16g, Trần bì 8g, Đương quy 12g, Phòng phong 8g, Bạch chỉ 8g, Cam thảo 4g, Bối mẫu 6g, Nhũ hương 4g, Một dược 4g, Thiên hoa phấn 8g, Tạo giác thích 4g, Xuyên sơn miếng. Ngày uống 3 lần cách xa bữa ăn 30 phút, uống 2 ngày 1 thang.
Trị viêm tuyến vú: 20 gr Kim ngân hoa, 16 gr Cam thảo đất, 20 gr Bồ công nha, 20 gr Thông thảo, 50 gr Sài đất, sắc uống ngày một thang.
Chữa viêm gan virus (Ngũ linh thang gia giảm): Kim ngân 16g; Nhân trần 20g; Xa tiền 16g; Phục linh, ý dĩ, mỗi vị 12g; Trư linh, Trạch tả, đại phúc bì, mỗi vị 8g. Sắc uống, ngày một thang.
Chữa bệnh vảy nến: Ngân kiều tán (chuyển thành thang) gia giảm gồm Kim ngân hoa 16g, Liên kiều 16g, Ngưu bàng tử 8g, Kinh giới 12g, Trúc diệp 8g, Bạc hà 6g, Chi tử 6g, quả Ké 8g, Bồ công anh 12g, Hạ khô thảo 8g, Thổ phục linh 12g. Ngày uống 3 lần cách xa bữa ăn 30 phút, uống 2 ngày 1 thang.
Chữa cảm cúm: Kim ngân 4g, Tía tô 3g, Kinh giới 3g, Mạn kinh 2g, Gừng 3 lát. Tất cả dùng lá phơi khô, sắc uống.
Chữa viêm cầu thận cấp tính: Kim ngân, Bồ công anh, mỗi vị 20g; Mã đề 12g; vỏ Quýt, vỏ rễ Dâu, vỏ cau khô, Ngũ gia bì, Quế chi, mỗi vị 8g, vỏ Gừng 6g. Sắc uống ngày một thang.
Viêm bạch mạch cấp (Giải độc đại thanh thang gia giảm): Kim ngân, Đại thanh diệp, Sinh địa, mỗi vị 40g; Huyền sâm, chi tử sống, mỗi vị 12g; mọc thông 4g. Nếu sốt cao thêm Thạch cao 40g, Hoàng liên 4g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa viêm màng tiếp hợp cấp: Kim ngân 16g; Liên kiều,Hoàng cầm, Ngưu bàng tử, mỗi vị 12g; Chi tử 8g; Bạc hà, Cát cánh, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa viêm gan mạn tính (Hoàng cầm hoạt thạch thang gia giảm): Kim ngân 16g; nhân trần 20g; hoàng cầm, hoạt thạch, đại phúc bì, mộc thông, mỗi vị 12g; phục linh, trư linh, đậu khấu, mỗi vị 8g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
Trị chứng mẩn ngứa, dị ứng: 20 gr hoa Kim ngân, Thổ phục linh, Quyết minh tử (sao) mỗi vị 6 gr, Sinh địa, Mạch môn, Hoàng đằng mỗi vị 8 gr, Huyền sâm, Liên kiều mỗi vị 10 gr. Cho 800 ml nước, sắc còn 200 ml. Ngày dùng một thang, chia uống làm ba lần.
Chữa viêm phổi: Kim ngân hoa, Sinh địa, Huyền sâm, mỗi vị 20g; Địa cốt bì, Sa sâm, Mạch môn, mỗi vị 16g; Hoàng liên 12g, Xương bồ 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Kim ngân, Sinh địa, Huyền sâm, Mạch môn, mỗi vị 20g; Liên kiều, Uất kim, Đan bì, mỗi vị 12g, Hoàng liên, Thạch xương bồ, mỗi vị 6g. Sắc uống, ngày, một thang.
Trị cảm sốt: 40 gr hoa kim ngân, trúc diệp, kinh giới tuệ mỗi vị 16 gr, đạm đậu xị 20 gr, bạc hà, ngưu bàng tử, cát cánh mỗi vị 24 gr, liên kiều 40 gr. Tất cả mang sấy khô, tán bột, hoàn viên. Ngày uống 1- 2 lần, mỗi lần 12 gr.
Chữa viêm khớp dạng thấp (Bạch hổ quế chi thang gia vị): Kim ngân 20g; Thạch cao 40g; Tang chi, Ngạnh mễ, Hoàng bá, Phòng kỷ, mỗi vị 12g; Thương truật 8g; Quế chi 6g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa nhiễm khuẩn huyết (Thanh doanh thang gia giảm): Kim ngân hoa, sinh địa, mỗi vị 40g, huyền sâm, liên kiều, mỗi vị 20g; địa cốt bì, đan bì, tri mẫu, mạch môn, mỗi vị 12g; hoàng liên 6g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa co giật trẻ em (Hương nhu ẩm gia giảm): Kim ngân hoa 16g, hương nhu, biển đậu, mỗi vị 12g; hậu phác, liên kiều, mỗi vị 8g. Sắc uống.
Kiêng kỵ: Tỳ vị hư hàn không thực nhiệt, hoặc mồ hôi ra nhiều không nên dùng
(Theo: Hội đông y Việt Nam)
Các bạn nên tham khảo thêm ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng các bài thuốc về hoa kim ngân nói trên.
Chúc bạn thành công!!
---- Sưu Tầm----

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

Các loài hoa đẹp gây mất ngủ

Các loài hoa đẹp không nên có trong phòng ngủ của bạn, hãy sử dụng các loài hoa đẹp thân thiện với người chơi hoa. Sau đây la những loài cây nên tránh.
Hoa lan: Mùi hương thơm của hoa lan khiến người hưng phấn nên dễ mất ngủ.

Hoa lan

Hoa tử kinh: Phấn của hoa tử kinh nếu tiếp xúc với người lâu gây nên bệnh hen hoặc khiến bệnh ho bị nặng thêm.
Hoa tulip và trinh nữ: Trong loại hoa và cây này có một loại chất chứa kiềm, loại chất hữu cơ có độc, người tiếp xúc nhiều sẽ bị rụng tóc và lông.

Hoa tulip

Hoa hồng: Loại cây này có thể hút rất nhiều khí có hại, tỏa mùi thơm dày đặc khiến cơ thể buồn nôn, ức chế thậm chí khó thở. Vì thế hoa hồng chỉ thích hợp khi cắm ở những chỗ có không gian rộng như phòng khách, hội trường
Hoa hồng

Các loại tùng bách: Mùi hương của những loại này có tác dụng kích thích dạ dày và đường ruột rất mạnh, chúng không những làm ảnh hưởng đến việc ăn uống mà còn có thể làm cho phụ nữ đang mang thai cảm thấy tâm phiền, ý loạn, tức ngực, buồn nôn.
Hoa bách hợp: Có thể hút được những chất hóa học bốc hơi nhưng mùi thơm của nó khiến thần kinh trung tâm hưng phấn quá độ, gây nên chứng mất ngủ.
Cây anh thảo: Trong đêm, loại hoa này tỏa mùi thơm kích thích khứu giác, nếu hít thời gian lâu sẽ khiến người ngửi bị bệnh huyết áp cao, bệnh tim, choáng, hoa mắt, bệnh nặng thêm. Nhưng loại hoa này cũng là một loại hoa thơm dáng đẹp và có tác dụng trừ muỗi thường thích hợp bài trí trong sân nhà và ban công.
Cây trúc đào: Loại cây này có thể bài tiết ra một loại dịch dạng sữa khiến người tiếp xúc thời gian lâu sẽ bị ngộ độc, gây nên buồn ngủ, trí lực bị giảm xuống.
Hoa dạ hương: Ban đêm loài hoa này sẽ phát tán rất nhiều các hạt nhỏ có tác dụng kích thích khứu giác, nếu ngửi quá nhiều, quá lâu thì sẽ làm cho những người bị cao huyết áp và người bị bệnh tim cảm thấy chóng mặt, hoa mắt, khó chịu, thậm chí có thể làm cho bệnh tình trở nên nghiêm trọng hơn
Cẩm tú cầu: Những hạt phấn nhỏ do hoa cẩm tú cầu phát tán ra tiếp xúc với người sẽ làm cho da của người bị dị ứng.

Cẩm tú cầu

Chúc bạn thành công
--------Sưu tầm------

Các loài hoa đẹp chữa bệnh (P2)

Sau thành công của bài viết các loài hoa đẹp chữa bệnh (P1) được các bạn đóng góp ý kiến rất nhiều, thay mặt cho ban quản trị blog xin cảm ơn các bạn đã theo dõi trong suốt thời gian qua, để đáp lại tình cảm của các bạn hôm nay mình xin đưa ra các loài hoa đẹp chữa bệnh phần 2. Mong các bạn đóng góp thêm ý kiến.

Hoa bèo tây: Hoa hơi ngọt, tính mát, có tác dụng an thần, lợi tiểu, giải độc, trừ phong nhiệt. Khi ho hen ho đàm hoặc ho gió, chưng một nắm hoa với đường phèn uống, kết hợp thêm hoa hoè hoa khế càng tốt. Người cao huyết áp mãn tính dùng hoa chế trà uống mỗi ngày cũng có tác dụng bình ổn.

Hoa bèo tây

Hoa hồng: Theo y học cổ truyền, hoa hồng có vị ngọt, tính ấm,tác dụng hoạt huyết, điều kinh, tiêu viêm, tiêu sưng. Người Trung Quốc và nhiều nước châu Á đã dùng hoa hồng để chữa bệnh từ rất lâu đời.

Hoa hồng

Hoa quỳnh: Hoa quỳnh chữa được rất nhiều bệnh như: sỏi thận, niệu quản, bàng quang theo kinh nghiệm dân gian: Hoa quỳnh thu hái lúc mới nở, để tươi hoặc phơi, thái nhỏ, tẩm mật, sao vàng. Hãm với nước sôi như pha trà hoặc sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống 1 lần trong ngày. Liều dùng hằng ngày: 20-30 g, dùng liền trong vài tuần.

Hoa quỳnh

Hoa kim ngân: Hoa kim ngân là vị thuốc có tác dụng thanh nhiệt, giải độc...
Hoa dâm bụt: Theo Đông y, lá dâm bụt vị nhạt, nhớt, tính bình, có tác dụng làm dịu, an thần, tẩy nhẹ, nhuận tràng, chữa viêm niêm mạc dạ dày, ruột, đại tiện ra máu, kiết lỵ, mụn nhọt, ghẻ lở, mộng tinh, đới hạ. Hoa dâm bụt vị ngọt, tính bình có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, sát trùng, chữa kinh nguyệt không đều, khó ngủ, hồi hộp, đái đỏ. Vỏ rễ dâm bụt vị ngọt, tính bình, có tác dụng điều kinh, chống ho tiêu viêm, chữa viêm tuyến mang tai, viêm kết mạc, viêm khí quản, viêm đường tiết niệu, viêm cổ tử cung, bạch đới, kinh nguyệt không đều, mất kinh (Cây cảnh đẹp cho vị thuốc hay chữa bệnh).

Hoa dâm bụt

Hoa gạo: Theo Đông y hoa gạo có vị đắng chát hơi ngọt, tính bình, có công hiệu làm se, thu sáp, sát khuẩn, tiêu viêm, thông huyết nên được sử dụng làm thuốc chữa trị mụn nhọt. Dược liệu được thu hoạch từ những bông hoa gạo lành lặn đem sấy khô bằng lửa nhỏ hay phơi khô dưới nắng nhẹ cất đi sử dụng làm thuốc chữa trị bệnh.
Hoa hướng dương: Có vị hơi ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng tùy theo bộ phận dùng: cụm hoa hạ huyết áp, giảm đau; rễ và lõi thân lợi tiểu, chống ho; lá tiêu viêm, giảm đau; hạt làm se, bổ cho dịch thể. Cụm hoa hướng dương chữa tăng huyết áp, đau đầu, choáng váng, ù tai, đau bụng, đau gan, đau khớp, viêm vú, thở khò khè. Ngày dùng 30-90g, sắc uống.

Hoa hướng dương

Hoa khế: Hoa có vị chua, chát, tính bình có công dụng bổ thận, sinh tinh, nhuận phế tiêu đờm, chữa chứng ho khan, ho có đờm, kiết lị.
----Sưu tầm----

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

Hoa Ngọc Lan

Những người chơi hoa sành điệu thường sưu tầm các loại hoa đẹp, trong đó không thể thiếu một cây ngọc lan trước cổng hoặc sau nhà vừa tỏa bóng, lại vừa có hoa đẹp hương thơm. hoa ngọc lan hay còn gọi là mộc lan, sứ, là tên gọi chung cho một số loài trong chi ngọc lan – Michelia, họ ngọc lan – Magnoliaceae. Chi ngọc lan bao gồm 50 loài với dạng sống từ cây bụi đến cây gỗ lớn, thường xanh, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Nam và Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc.

Hoa ngọc lan
Hoa ngọc lan

Hoa ngọc lan ở Việt Nam

"Cành ngọc lan xòa bóng mát
tỏa hương bát ngát"
(Bài hát: Hương ngọc lan)
Trời sinh ra loài hoa này và đặt cho nó một cái tên rất đẹp. Hoa ngọc lan hẳn đã gửi gắm một niềm yêu qúy. Ở Việt Nam, có khoảng 20 loài thuộc chi ngọc lan, trong số đó có khoảng 5 loài được trồng phổ biến khắp nước, thường được trồng nhiều nhất tại đền thờ, chùa chiền, lăng tẩm, cung điện là ngọc lan trắng và ngọc lan vàng, thường hay được trồng ở vị trí tiền đình của cảnh phật. Ngọc lan trắng cũng được trồng nhiều ở các khuôn viên công sở. Ngoài ra, ngọc lan cũng đã được trồng ở một số công viên, vườn cảnh, dùng làm hoa trang trí hoặc tạo bóng mát rất tốt. Những bông hoa trắng muốt, nhỏ nhoi, e ấp, hoa ngọc lan tự nép mình trong vòm là xanh nhưng vẫn không giấu nổi mùi hương thơm ngát lan tỏa. Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường ví hoa với người đẹp và thường đoán tính cách của con người từ sở thích các loài hoa. Người yêu hoa ngọc lan phải là người có tâm hồn thanh cao, lối sống giản dị và biết cảm nhận cái đẹp tinh tế lắm.

Hoa ngọc lan 01
Hoa ngọc lan ở Việt Nam
Ngọc lan vàng, còn được gọi là ngọc lan ngà, mộc lan vàng, sứ vàng, tên khoa học là Michelia champaca. Cây thường xanh, to cao hơn Ngọc lan trắng, có thể cao đến 35 m. Lá có phiến hình xoan hay xoan thuôn, to 10-20 x 4-9 cm, chót nhọn hay có mũi, có lông thưa ở cả 2 mặt. Hoa cũng rất thơm, màu vàng ngà đến vàng cam cam, cánh thẳng.
Ngọc lan trắng, còn được gọi là mộc lan trắng, sứ trắng, bạch lan hoa, tên khoa học là Michelia alba. Cây thường xanh, cao 10 – 15 m, nhánh non có lông. Lá bầu dục thon, to khoảng 15-25 x 4-9 cm, xanh tươi, sáng màu, hơi ngã vàng. Hoa rất thơm, gồm 8-12 cánh hoa trắng thon nhọn, hơi cong, nhiều nhị vàng ngắ

Hoa ngọc lan trong y học

Theo y học cổ truyền, hoa ngọc lan có tính ôn, vị hơi cay, có công năng tiêu đờm, ích phế hòa khí. Có thể dùng pha trà để uống, với nhiều cách khác nhau, cho nhiều công dụng khác nhau như dưới đây:
- Chữa ho, đau bụng hành kinh: Hoa ngọc lan 30 g, mật ong 40 g, cho 2 thứ vào hấp cách thủy trong 20-30 phút để ăn.
- Chữa sốt, kinh nguyệt không đều, tiểu tiện khó: Lấy vỏ thân cây ngọc lan, cạo sạch lớp vỏ ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô. Lấy 30 g vỏ sắc với 400 ml nước cho đến khi còn 100 ml, uống 2 lần trong ngày.
- Chữa bạch đới, khí hư: Hoa ngọc lan 20 g, hạt ý dĩ 30 g, đậu ván trắng 30 g, hạt mã đề 5 g, sắc uống trong ngày.
- Chữa viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi: Lá ngọc lan 30 g, lá cây gừa 30 g, giun đất đã chế biến 5 g, thái nhỏ, phơi khô, sắc uống.
- Chữa sưng tấy: Lấy lá ngọc lan loại non và bánh tẻ rửa sạch, giã nát, đắp vào chỗ sưng tấy.
- Chữa viêm xoang: Lấy hoa ngọc lan lúc còn xanh, sấy khô giòn, tán và rây thành bột mịn, đựng vào lọ kín. Khi bị chảy nước mũi, mở lọ ngửi và hít mạnh để bột thuốc bay vào mũi, ngày làm 2-3 lần.

Lưu ý: Trừ bài thuốc chữa viêm xoang, hoa ngọc lan dùng làm thuốc phải là loại mới chớm nở, dùng tươi hoặc sấy nhẹ cho khô.
Chúc các bạn thành công!!!!
--------Sưu tầm----------

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

Các loài hoa đẹp chữa bệnh (P1)

Trong thế giới tự nhiên không biết có biết bao các loài hoa đẹp, nhưng từ xưa đến này con người đa phần chỉ biết đến hoa có tác dụng làm trang trí, nhằm thỏa mãn nhãn quan, tận hưởng thú vui trên đời. Mà ít ai biết được hoa có tác dụng thần kỳ trong y học dân gian, từ ngàn đời sưa các thầy thuốc đã biết vận dụng các đặc tình của mỗi loài hoa đẹp vào các bài thuốc chữa bệnh của mình. Sau đây yêu hoa đẹp sẽ tổng hợp lại các loài cây thường được sử dụng nhiều nhất trong các bài thuốc dân gian (có kém theo đường dẫn chi tiết).

Hoa mẫu đơn: Trong y học cổ truyền Việt Nam, giống như các loài hoa có công dụng chữa bệnh như hoa cứt lợn, hoa mười giờ, hoa mẫu đơn có tính mát, vị cay ngọt đắng, chủ trị thanh nhiệt, mát huyết, tiêu ứ, hòa huyết, được dùng làm thuốc trấn kinh, giảm đau, chữa nóng âm ỉ kéo dài, sốt về chiều và đêm, không có mồ hôi, hoặc đơn sưng, huyết ứ phát sốt, nhức đầu, đau lưng, đau khớp, đau kinh, kinh nguyệt không đều, chảy máu cam, đại tiện ra máu, nóng trong xương, kinh bế, trưng hà, ung nhọt, lở loét, bị giập gãy xương, trúng phong co quắp, động kinh, đẹp nhan sắc, thông huyết mạch, tiêu máu ứ, trừ phong tý, và bệnh phụ khoa sau khi đẻ. Ngày dùng 1 lần 10-12g, dạng thuốc sắc.(Xem chi tiết)

Hoa mẫu đơn

Hoa ngọc lan: Hoa ngọc lan chủ yếu dùng để uống trà, trà hoa ngọc lan có công dụng làm đẹp da, giúp quá trình trao đổi chất trong cơ thể được tốt hơn.

Hoa ngọc lan

Hoa mười giờ: Trong y học hoa mười giờ có công dụng chữa bỏng rất tốt cùng với các loại bệnh thường gặp vào mùa hè như viêm họng, eczema, ghẻ, mụn nhọt… rất nhiều người không biết đến những công dụng tuyệt vời của hoa mười giờ, với đặc tính dễ tìm, lành tính bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, thu hái quanh năm. Dùng tươi hay phơi khô. Dùng tươi bằng cách giã nát cây hoặc chiết, dịch cây dùng bôi ngoài. Loài hoa đẹp nhất Việt Nam còn được miêu tả bằng câu thơ:
Hỡi ai đi đông về tây
Thuốc tiên chữa bỏng là cây mười giờ
Nước sôi, lửa bỏng bất ngờ
Lấy cây mười giờ giã nhỏ đắp ngay
Vừa đắp vừa trở liền tay
Vết bỏng hết rát khỏi ngay tức thì
hoa mười giờ

Lan phi điệp: Còn có tên gọi khác như Hoàng thảo đùi gà, Hoàng thảo cẳng gà, Hoàng thảo dẹt, Huỳnh thảo, Co vàng sào (Thái), lan Phi điệp, Phi điệp kép. Cây được dùng trong y học  cổ truyền với tên thuốc là Thạch hộc hay Kẹp thảo. Có tác dụng chữa chứng suy nhược cơ thể, thần kinh suy nhược, đau họng và yếu sinh lý ở nam giới. Cây được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là thạch hộc hay kẹp thảo.

Lan phi điệp

Hoa cứt lợn
- Chữa phụ nữ bị rong huyết sau khi sinh nở
- Chữa viêm xoang dị ứng
- Phối hợp với nước bồ kết để gội đầu có tác dụng sạch gầu, trơn tóc
Theo đông y, cây hoa cứt lợn có các đặc tính tốt cho cơ thể người bệnh, hoa có vị cay, đắng, tính mát; vào 2 kinh Thủ thái âm Phế và Thủ quyết âm Tâm bào. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, tiêu thũng, trục ứ. Dùng chữa cảm mạo phát sốt, các chứng bệnh yết hầu sưng đau, ung thũng, mụn nhọt... Sách Quảng Đông trung dược còn nói dùng để trị bệnh sa tử cung và u tử cung.
Liều dùng khi uống trong: từ 15 - 30 g khô (hoặc 30 - 60 g tươi), sắc với nước uống hoặc giã vắt lấy nước cốt uống; dùng ngoài không kể liều lượng. (Xem chi tiết)

Hoa cứt lợn

Hoa cúc: Còn gọi là cúc hoa vàng hay hoàng cúc đông y cho rằng kim cúc vị đắng - cay, tính hơi ôn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt sưng đau, đau mắt đỏ có sưng, đau đầu chóng mặt, chữa cảm lạnh, cúm, viêm não nhẹ, viêm mũi, viêm da mủ, viêm vú, hoa mắt, huyết áp cao, viêm gan, kiết lỵ, chảy nước mắt nhiều...(Xem chi tiết)

Hoa cúc

Hoa đỗ quyên: Vị chua ngọt, tính ấm, sắc nước ấm, sắc nước uống có tác dụng trị nôn ra máu, chảy máu mũi. Hoa đỗ quyên trắng hầm với móng giò lợn, chữa chứng ra khí hư…

Hoa đỗ quyên

Hoa Ngâu: Đây là loại hoa màu vàng, mọc thành chùm ở kẽ lá, rất thơm, thường được dùng để ướp trà và làm vị thuốc, mùa hoa vào tháng 7, tháng 8. Hoa ngâu có vị cay ngọt, giúp giải uất kết, làm thư giãn bên trong người, giúp tỉnh rượu, sạch phổi, tỉnh táo đầu óc, sáng mắt, ngưng phiền khát. 
Hoa ngâu được dùng chữa chứng đầy trướng khó chịu ở ngực, chứng nghẹn hơi mới phát, chữa ho hen và váng đầu, nhọt độc. Hoa ngâu chữa được các bệnh như: Chữa tăng huyết áp; Chữa chứng bế kinh; Chữa chứng thương tích do vấp ngã, bị đòn; Chữa chứng say rượu …

Hoa ngâu

Hoa nhài: Từ ngàn đời xưa đã biết đến công dụng của các loài hoa như hoa mươi giờ, hoa cứt lợn rất tốt trong việc chữa các bệnh thường gặp, nhưng nhắc đến hoa nhài người ta chỉ biết dùng để ướp trà nhưng ít ai biết hoa nhài lại có tác dụng to lớn trong việc điều trị bệnh thường gặp không kém các cây hoa thuốc còn lại. (Xem chi tiết)

Hoa nhài

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

Hoa mẫu đơn - Trong y học dân gian

Với màu sắc hoa rực rỡ thu hút ánh nhìn của người đối diện với nó, hoa mẫu đơn đã chinh phục được nhiều người yêu hoa đẹp, với đánh giá tổng quan về màu sắc tự nhiên cũng như là ý nghĩa công dụng mà loài hoa này đem lại, hoa mẫu đơn được xếp vào hàng các loài hoa đẹp nhất ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản sánh ngang cùng các loài hoa được lựa chọn làm quốc hoa như hoa anh đào ở Nhật Bản, hoa sen của Việt Nam, hoa mai, quốc hoa Trung Quốc.

Hoa mẫu đơn
Hoa mẫu đơn
Hoa mẫu đơn có tên khoa học là: Paeonia là chi duy nhất trong họ Mẫu đơn Trung Quốc (Paeoniaceae). Được bắn nguồn tứ Trung Quốc và Tây Tạng, là một trong những cây hoa được con người biết đến từ rất sớm, cách đây đã gần 4000 năm. Với kích thước hoa lớn mọc ở đầu ngọn cây, đầu cành, hoa rất tổng hợp, đường kính 10-20 cm, màu đỏ tím hoặc trắng, hoặc vàng, màu sắc rất đẹp, mùi thơm gần giống mùi thơm của hoa hồng. Hoa có nhiều nhị đực.  Chúng có các lá phức lá mọc so le, thường chia thành 3 lá chét, mỗi lá chét lại chia thành 3 thùy, mặt trên lá màu xanh nhạt hay xanh sẫm, mặt dưới màu trắng nhạt, bóng, không có lông tơ. Cuống lá dài từ 10-25 cm, hình thuôn hoặc tròn, lá chét cuống ngắn hoặc không cuống. Quả hình ngôi sao, hoặc hình tam giác hoặc lục giác. Hạt màu đen, nhỏ hơn hạt đậu tương. Thuộc loại cây nhỏ, thân gỗ. Cây cao từ 0,7-1 m, đôi khi có một số loài là cây bụi thân gỗ cao tới 1,5–3 m, có nhiều cành. Rễ dùng làm thuốc, sau khi chế biến, rễ cuộn cong như lông ngỗng, ngoài màu đen, có nhiều vết nhăn, mặt trong màu hồng nhạt, có mùi thơm đặc biệt, lổn nhổn trên mặt có những hạt nhỏ màu trắng.
Hoa mẫu đơn 01
Hoa mẫu đơn được tạc bằng ngọc

Hoa mẫu đơn trong y học

Trong y học cổ truyền Việt Nam, giống như các loài hoa có công dụng chữa bệnh như hoa cứt lợn, hoa mười giờ, hoa mẫu đơn có tính mát, vị cay ngọt đắng, chủ trị thanh nhiệt, mát huyết, tiêu ứ, hòa huyết, được dùng làm thuốc trấn kinh, giảm đau, chữa nóng âm ỉ kéo dài, sốt về chiều và đêm, không có mồ hôi, hoặc đơn sưng, huyết ứ phát sốt, nhức đầu, đau lưng, đau khớp, đau kinh, kinh nguyệt không đều, chảy máu cam, đại tiện ra máu, nóng trong xương, kinh bế, trưng hà, ung nhọt, lở loét, bị giập gãy xương, trúng phong co quắp, động kinh, đẹp nhan sắc, thông huyết mạch, tiêu máu ứ, trừ phong tý, và bệnh phụ khoa sau khi đẻ. Ngày dùng 1 lần 10-12g, dạng thuốc sắc.
- Chữa tăng huyết áp: Mẫu đơn bì 8g, thục địa 16g, hoài sơn 12g; sơn thù, trạch tả, phục linh, đương quy, bạch thược, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
- Trị thương hàn nhiệt độc: phát lở loét như hạt đậu: mẫu đơn bì 10g, sơn chi tử 3g, hoàng cầm (bỏ lõi đen) 6g, đại hoàng sao 6g, ma hoàng (bỏ rễ và đốt) 6g. Tất cả tán nhỏ, mỗi lần dùng 5g sắc với 200ml nước, còn lại 100ml, bỏ bã, uống ấm.
- Trị thương hàn và ôn bệnh: chảy máu cam, nôn ra máu không ngừng, mặt vàng, đại tiện phân đen: tê giác 40g, sinh địa 320g, bạch thược 120g, mẫu đơn bì 80g. Các vị cắt nhỏ, đổ 900ml nước sắc còn 300ml, chia uống 3 lần trong ngày.
- Chữa viêm gan siêu vi khuẩn cấp tính: Mẫu đơn bì 16g, nhân trần 40g, sinh địa 24g, chi tử 16g; hoàng liên, đan sâm, huyền sâm, thăng ma, thạch hộc, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa đái tháo đường: Mẫu đơn bì 12g; thục địa, hoài sơn, mỗi vị 20g; kỷ tử, thạch hộc, mỗi vị 12g; sơn thù, thiên hoa phấn, sa sâm, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa rong huyết: Mẫu đơn bì 12g, hoa cây cỏ nến (bồ hoàng) sao đen 20g; địa du, a giao, huyết dụ, bạch thược, sinh địa, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa suy nhược thần kinh: Mẫu đơn bì 8g; kỷ tử, thục địa, hoài sơn, câu đằng, sa sâm, mạch môn, mỗi vị 12g; cúc hoa, sơn thù, trạch tả, phục linh, táo nhân, bá tử nhân, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa đau nhức do máu kém lưu thông, gây thiếu máu: Mẫu đơn bì 100g, đương quy 1.000g; hoài sơn, ngọc trúc, hà thủ ô đỏ, đan sâm, mỗi vị 200g; bạch linh, mạch môn, trạch tả, mỗi vị 100g; thanh bì, chỉ thực, thù nhục, mỗi vị 50g. Tán bột làm viên nặng 5g. Ngày uống 4-6g.
- Chữa đau kinh: Mẫu đơn bì, đào nhân, hồng hoa, huyền hồ sách, hương phụ, mỗi vị 8g, mộc hương 6g, cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.
- Chữa viêm loét dạ dày tá tràng: Mẫu đơn bì 8g, bạch thược 12g; thanh bì, chi tử, bối mẫu, trạch tả, hoàng liên, mỗi vị 8g, trần bì 6g, ngô thù 4g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa hen phế quản khi hết cơn hen: Mẫu đơn bì 8g, thục địa 16g, hoài sơn 12g; sơn thù, phục linh, trạch tả, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang, hoặc làm hoàn uống mỗi ngày 20g.
- Chữa viêm tắc động mạch: Mẫu đơn bì 12g; cam thảo, đương quy, mỗi vị 20g; kim ngân hoa, xích thược, qua lâu nhân, ngưu tất, mỗi vị 16g; huyền sâm, đào nhân, đan sâm, mỗi vị 12g; binh lang, chỉ xác, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa viêm khớp cấp: Mẫu đơn bì 10g, huyền sâm 20g; tiền hồ, hoàng cầm, tri mẫu, kỷ tử, sinh địa, mạch môn, thạch hộc, mỗi vị 12g, thăng ma 8g; đậu khấu, xạ can, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
- Trị vùng hạ bộ lở loét: vết lở loét như hang, rãnh; vết đâm lở loét bên trong, không ra máu: mẫu đơn bì tán nhỏ, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê.
- Trị phụ nữ nóng trong xương: kinh mạch không thông, gầy yếu: mẫu đơn bì 60g, nhục quế 40g, mộc thông (cắt, sao) 40g, bạch thược 60g, miết giáp (nướng giấm) 80g, rễ khổ qua 60g, đào nhân 40g (bỏ vỏ, đầu nhọn, sao). Tất cả tán nhỏ. Mỗi lần lấy 5g nấu với 300ml nước còn 150ml, bỏ bã, chia 2 lần uống ấm.
- Chữa đơn độc sưng tấy, sưng vú, viêm tinh hoàn: Mẫu đơn bì, đơn đỏ, huyết giác, cam thảo dây, đơn châu chấu, chó đẻ răng cưa, huyền sâm, mạch môn, ngưu tất, mộc thông, hoàng đằng, chi tử, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa suy nhược thần kinh, nhức đầu, mất ngủ, di tinh: Mẫu đơn bì 8g, thục địa 16g; sơn thù, hoài sơn, mỗi vị 12g; trạch tả, phục linh, phụ tử chế, mỗi vị 8g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang.
- Trị trường ung: bụng dưới sưng bĩ, đau phát sốt, ra mồ hôi trộm, sợ lạnh, mạch trì khẩn: đại hoàng 160g, mẫu đơn bì 40g, đào nhân 50 hạt, mang tiêu 30g. Đổ 600ml nước sắc còn 150ml, bỏ bã, cho mang tiêu vào, đun sôi lại, uống nóng.
- Chữa xơ gan cổ trướng: Mẫu đơn bì 8g, rễ cỏ tranh 20g; thục địa, hoài sơn, bạch truật, địa cốt bì, mỗi vị 12g; sơn thù, trạch tả, phục linh, đương quy, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
- Trị viêm mũi dị ứng: mẫu đơn bì 100g, nước 300ml sắc còn 100ml, mỗi tối uống 50ml. Uống 10 ngày là một liệu trình.
- Chữa bìu sa sệ, bên to bên nhỏ: mẫu đơn bì, phòng phong lượng bằng nhau, nghiền nhỏ. Mỗi lần uống 8g với rượu.
- Kiêng kỵ: người huyết hư có lạnh, phụ nữ có thai, kinh nguyệt quá nhiều cẩn thận khi dùng. Người ra mồ hôi trộm nhiều hoặc vị khí hư lạnh, tướng hỏa suy không dùng.
Theo Lương y Nguyễn Minh

Hoa mẫu đơn 02
Hoa mẫu đơn trong thiên nhiên

Ý nghĩa hoa mẫu đơn

Với vẻ đẹp tuyệt với cùng với các công dụng trong y học người đời đã phong tặng cho hoa mẫu đơn là bà chúa của các loài hoa đẹp. Tinh hoa nó toát ra đem lại vẻ đẹp sang trọng, quý phái, sức hấp dẫn nồng nàn, cảm xúc của sức trẻ toát ra mạnh mẽ sức quyến rũ và may mắn trong tình yêu. Chính vì vậy hoa mẫu đơn thường được làm hoa trang trí vào các dịp quan trọng như khai trương cửa hàng, hoặc tranh mẫu đơn để chúc nhau ngày càng phú quý, giàu sang, thịnh vượng, sắc đẹp.

Hoa mẫu đơn 03
Hoa mẫu đơn Trung Quốc
------Sưu tầm-------

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Hoa cúc

Hoa cúc loài hoa đã trở lên quen thuộc trong đới sống sinh hoạt của người dân Việt Nam, hoa cúc xuất hiện ở mọi nơi từ những nơi trang nghiêm như các đình, chùa, bàn thờ gia tiên hay các vườn hoa trang trí trong các công viên, hoa cúc đi vào văn hòa dân gian được nằm trong tứ quân tử là (tùng, trúc, cúc, mai) muốn ám chỉ sự trung thành và cương quyết, trước sau không thay đổi. Hoa cúc được đặc biệt yêu thích ở những nước phương đông, người ta thường có thói quen thưởng thức ngắm hoa cúc nở hay chưng những chậu hoa cúc trong nhà. Hoa cúc ở Việt Nam thuộc họ cúc có tên khoa học là: Asteraceae hay Compositae, còn gọi là họ hướng dương, là một họ thực vật có hoa hai lá mầm. Tên gọi khoa học của họ này có từ chi Aster (cúc tây) và có từ nguyên từ gốc tiếng Hy Lạp mang nghĩa ngôi sao hình dáng của bông hoa trong các loài của nó, được điển hình hóa thành tên gọi phổ biến chung là hoa cúc. Hoa cúc có hàng ngàn loại hoa: như cúc chỉ, cúc sao nháy, cúc mắt bò, cúc vạn thọ... không kém các loài hoa khác như: hoa hồng, hoa sen, hoa mười giờ.... hoa cúc cũng là loài hoa có rất nhiều màu sắc khác nhau: từ cam, vàng đến trắng, hồng tím... nay lại mới có thêm màu xanh ngọc.

Hoa cúc
Hoa cúc trắng
Hoa cúc nở hoa khác hẳn với các loài hoa đẹp khác, khi thu đến, đông sang, các loài hoa khác đều tàn lụi, chỉ có hoa cúc vàng đua nở, "khi hoa cúc trổ hoa, các hoa khác không còn", nên hoa cúc được tán tụng là "cúc ngạo ngàn sương", "cúc là hoa tài tuyệt hảo của mùa thu"...
Những năm trở lại đây, không cần phải đến mùa thu mà người ta có thể nhìn thấy hoa cúc vào bất kỳ mùa nào trong năm nhờ vào những kỹ thuật lai ghép tiên tiến.
Thân hoa cúc chia nhiều nhánh. Hoa vươn nở ở đầu cành. Những cánh hoa xúm xít kết hợp hài hòa quanh đám nhụy li ti màu xanh non. Hàng ngàn cánh hoa vàng rực bao bọc xung quanh những nhuỵ hoa li ti. Nhiều cánh hoa tiếp theo từ nhỏ tới lớn dần, lần lượt vây quanh ở những vòng ngoài sắc vàng tươi thắm hơn, tương tự như ở hoa hướng dương được cấu thành từ các hoa con có dạng cánh hoa dài, được gọi là lưỡi bẹ; chúng là hoa tia. Phần bên trong của đầu cụm hoa (hay đĩa) được hợp thành từ các hoa nhỏ với các cánh hoa hình ống; chúng là các hoa đĩa hay hoa phễu hoặc hoa ống. Thành phần của các hoa họ Cúc dao động từ hoa toàn tia (tương tự như ở các loài hoa bồ công anh, chi Taraxacum) tới hoa toàn đĩa (tương tự như ở các loài cỏ dứa). Mỗi cây hoa cúc có rất nhiều cành và ở mỗi đầu cành luôn luôn là những nụ hoa đang chờ ngày vươn mình hé nở. Thường rất nhiều hoa và nụ trên một cây nhưng hoa cúc vẫn không mất đi màu xanh, những chiếc lá cũng vươn mình theo những cánh hoa lunh linh. Lá hoa tạo cho hoa có một vẽ đẹp rực rỡ hơn, những chiếc là với thiết kế đường cong uốn lượn rất mỹ thuật được miêu tả trong bài thơ “HOA CÚC VÀNG” .
                                                       Thượng đế cho em mượn ánh vàng
                                                       Mặt trời thêm chút sắc màu sang
                                                       Nên thân lộng lẫy loài hoa nở
                                                       Với dáng kiêu kỳ tấm áo mang

                                                       Rực rỡ xuân thu trên cõi thế
                                                       Thong dong đông hạ giữa trần gian
                                                       Bốn mùa duyên thắm tô đời đẹp
                                                       Nắng chẳng làm phai nét dịu dàng.
Tác giả: Phạm Thị Cúc Vàng
Hoa cúc 01
Hoc cúc vàng trong đời sống

Hoa cúc trong y học dân gian

Theo đông y, hồng cúc mang vị ngọt hơi chát, tính bình, tác dụng khử đờm, bình suyễn, tiêu viêm, chống ho. Nó được dùng chữa hen phế quản, viêm phế quản cấp hay mạn, ho gà, lao phổi, ho ra máu, đau mắt, đau đầu, chữa sốt cho trẻ em. Còn bạch cúc có vị ngọt, hơi đắng, tính hơi hàn, tác dụng tán phong thanh nhiệt (diuretic), mát gan, sáng mắt, chữa phong nhiệt cảm mạo, đau đầu, trị bệnh cao huyết áp, chóng mặt nhức đầu, mắt đỏ sưng đau, bệnh hay chảy nước mắt sống. Hoa cúc vàng hoàng cúc có vị đắng, hơi cay, tính hơi ôn, tác dụng thanh nhiệt (diuretic), giải độc, chữa mụn nhọt sưng đau, đau mắt đỏ có sưng, nhức đầu chóng mặt, chữa cảm lạnh, cúm, viêm mũi, xốn mắt, huyết áp cao, viêm gan, kiết lỵ, chảy nước mắt nhiều…
Vì đặc tính hoa cúc mang hương thơm và giải nhiệt hay lợi tiểu (diuretic) nên cúc được dùng ướp trà cho hương thơm, lấy tinh chất của cúc pha chế thành một loại rượu ngon hoặc sử dụng như một vị thuốc chữa bệnh nhức đầu, nóng sốt và sáng mắt.

Sự tích hoa cúc

Chuyện kể rằng, hồi đó có một gia đình nghèo có 2 mẹ con sống rất yên bình trong một ngôi nhà nhỏ. Người mẹ tần tảo làm lụng nuôi con. Người con còn nhỏ nhưng rất hiếu thảo, biết vâng lời và chăm chỉ. Nhưng rồi một ngày kia, người mẹ bỗng lâm bệnh nặng. Người con thương mẹ lắm, nên dù nhà nghèo em vẫn cố gắng chạy chữa những thầy lang giỏi nhất vùng. Nhưng sức khỏe người mẹ càng ngày càng yếu đi. Người con lo lắm, quyết tâm đi tìm thầy chữa bệnh cho mẹ. 
Em đi mãi, đi mãi, qua bao nhiêu làng mạc, núi sông, ăn đói mặc rách vẫn không nản lòng. Một hôm đi qua một ngôi chùa, em xin phép nhà sư trụ trì được cầu phúc cho mẹ, tấm lòng hiếu thảo của em động đến cả trời xanh. Trời nghe phải nhỏ lệ, đất nghe phải cúi mình. Đức Phật từ bi cảm thương tấm lòng hiếu thảo của người con, động lòng trắc ẩn người đã hóa thân thành một nhà sư, đi ngang qua chùa và tặng em một bông hoa vàng rực. Đức Phật nói: "ta cho con bông hoa này, nó là biểu tượng của sự sống, là bông hoa chứa đựng niềm hi vọng, là ước mơ của loài người, là thần dược để chữa bệnh cho mẹ con. Nhưng con phải nhớ, cứ một năm thì hoa sẽ rụng đi một cánh hoa, bông hoa này có bao nhiêu cánh thì mẹ con chỉ sống được bấy nhiêu năm". Người con cảm tạ Đức Phật và đếm cánh hoa. Rất đau buồn khi biết bông hoa chỉ có năm cánh, nghĩa là người mẹ chỉ sống với em được năm năm nữa.
Thương mẹ quá em đã liều xé nhỏ từng cánh hoa cho đến khi không còn đếm được bông hoa có bao nhiêu cánh nữa. Bà mẹ nhờ có bông hoa thần dược đó mà sống rất lâu bên người con hiếu thảo của mình. Bông hoa vàng rực vô số cánh là biểu tượng của sự sống, là ước mơ trường tồn, là khát vọng chữa lành mọi bệnh tật của con người. Sau này người đời gọi là hoa cúc.

Hoa cúc 02
Hoa cúc trong chậu

Hoa cúc ấn chứa nhiều ý nghĩa

Hoa cúc vàng hay hoàng cúc tượng trưng cho sự quí mến, sự vui mừng. Hoa cúc trắng hay bạch cúc là sự ngây thơ, duyên dáng. hoa cúc tím hay hoa thạch thảo là sự quyến luyến khi chia tay. Hoa cúc đỏ hay hồng cúc là sự thành công, mừng rở. Chung qui thì cúc là một loài hoa đẹp, dáng thanh tao, và mang mùi thơm dịu dàng. Đặc biệt hoa cúc không rụng cánh như hoa hồng và nhiều loài hoa khác nên rất ưa được trang trí trên bàn thờ, nhất là dịp tết. 
Như vậy chúng ta đã thấy rằng hoa cúc rất gần gủi trong đời sống, cúc là loài hoa đẹp đẽ, thanh tao và hữu ích. Hoa cúc vàng là biểu tượng và truyền thống của ngày tết Việt Nam, hãy cảm nhận vẽ đẹp của những bông hoa cúc vàng khoe sắc rực rỡ.

-----------Sưu tầm------------

Hoa xương rồng

Chúng ta thường chỉ biết tới hoa xương rồng với công dụng để làm hàng rào hoặc dùng làm hoa trang trí. Thế nhưng trên thực tế hoa xương rồng còn rất nhiều công dụng khác mà nhiều người trong chúng ta chưa biết tới. Hoa xương rồng được du nhập từ các nước có khí hậu khô hạn, hoa xương rồng sinh trưởng và phát triển tốt trên sa mạc nơi có nguồn nước và các chất dinh dưỡng hạn chế. Hoa xương rồng thuộc vào họ xương rồng (tên khoa học: cactaceae) thường là các loài cây mọng nước hai lá mầm và có hoa. Họ Cactaceae có từ 24 đến 220 chi, tùy theo nguồn (90 chi phổ biến nhất), trong đó có từ 1.500 đến 1.800 loài. Những cây hoa xương rồng được biết đến như là có nguồn gốc từ châu Mỹ, nhất là ở những vùng sa mạc. Cũng có một số loại biểu sinh trong rừng nhiệt đới, những loại đó mọc trên những cành cây, vì ở đó mưa rơi xuống đất nhanh, cho nên ở đó thường xuyên bị khô. Cây xương rồng có gai và thân để chứa nước dự trữ.

Hoa xương rồng
Hoa xương rồng
Theo tổ chức quốc tế nghiên cứu về thực vật mọng nước hay ICSG, họ hoa xương rồng bao gồm 125 đến 130 chi và 1.400 – 1.500 loài, thuộc 4 phân họ và số tông nhiều nhất là 9.
Tuy các họ và các giống khác nhau nhưng hoa xương rồng vẫn có những đặc điểm chung được mô tả ngắn gọn như sau: hoa xương rồng là một loài thực vật mọng nước, nói chung là những cây tương đối dễ trồng và dễ chăm sóc hơn các loại cây cảnh khác vì bản thân chúng là những loại thực vật dễ thích nghi, chịu khô hạn, không đòi hỏi nhiều dưỡng chất trong đất và ít bị sâu bệnh. Tuy nhiên, để duy trì cho cây sống khoẻ, phát triển mạnh và có thể cho hoa đẹp thì cần phải chú ý việc chăm sóc cây. Hoa xương rồng có nhiều dạng phát triển thành cây lớn, thành bụi hoặc phủ sát mặt đất. Đa số các loài hoa xương rồng đều mọc và phát triển từ đất, nhưng cũng có rất nhiều loài kí sinh trên các loài cây khác để phát triển. Phần lớn hoa xương rồng, trừ nhánh Pereskioideae, hoa xương rồng tiêu biến lá rất đáng kể. Cánh hoa xương rồng phân bố đồng đều và đồng tâm, hoa đa phần là lưỡng tính, nở vào cả sáng và tối tuỳ theo loài. Hình dạng thay đổi từ dạng phễu qua dạng chuông và tới dạng, tròn, phẳng, kích thước trong khoảng từ 0,2 đến 15–30 cm. Phần lớn có đài hoa (từ 5-50 cái hoặc hơn), thay đổi dạng từ ngoài vào trong, từ lá bắc đến cánh hoa. Số lượng nhị rất lớn, từ 50 đến 1.500 (hiếm khi ít hơn). Gần như tất cả các loài xương rồng có vị đắng, thi thoảng bên trong còn có nhựa đục. Một trái xương rồng chứa khoảng 3.000 hạt, mỗi hạt dài 0,4-12mm.

Hoa xương rồng 01
Vườn hoa xương rồng

Công dụng hoa xương rồng trong y học

Cũng giống như các loài hoa đẹp khác hoa xương rồng cũng có những tác dụng tuyệt vời trong y học dân gian, một số bệnh chữa được bằng hoa xương rồng rất hiệu quả.
1. Chữa mụn nhọt: Lấy cành xương rồng rồi bổ làm đôi, hơ trên lửa cho nóng. Vừa hơ, bạn vừa áp mặt cắt vào mụn nhọt đang sưng đau, độc sẽ tự tiêu. Bạn Cũng có thể lấy một đoạn xương rồng rồi cạo sạch gai, giã nát với lá ớt, lá mồng tơi đắp vào mụn hay nhọt đầu đinh để trị.
2. Điều trị bệnh tiểu đường, dạ dày, mệt mỏi: Cây xương rồng Lê Gai còn gọi là cây Tiên Nhân Chưởng cũng là một loại xương rồng họ Opunitia được đề nghị sử dụng nhiều trên thế giới nhằm hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường, dạ dày, mệt mỏi…
3. Chữa đau răng: Hái cành xương rồng rồi cạo bỏ gai, đem nướng cho nóng mềm, giã nát, nhặt bỏ xơ, thêm ít muối. Sau đó đặt vào chổ răng đau ngậm chặt lại. Khi chảy dãi, bạn nhổ ra. Thực hiện 3-4 ngày. Sau mỗi lần ngậm bạn nhớ súc miệng tránh nuốt vào vì có thể gây tiêu chảy.
4. Trị đau lưng: Theo một số bài thuốc dân gian Xương rồng có thể sử dụng làm thuốc trị đau lưng bằng cách luộc xương rồng Opunitia để ăn.
5. Làm hạ đường huyết: Nhiều nghiên cứu cho thấy xương rồng còn giúp hạ đường huyết. Tác dụng hạ đường huyết mạnh hơn khi bạn dùng 500g lá nấu sôi, chia làm 2-3 lần uống trong ngày. Uống cho đến khi lượng đường bình ổn.
6. Chữa sốt: Nước ép từ quả của cây xương rồng trộn với mật ong, chia ra từng liều nhỏ giúp thúc đẩy khạc ra đờm. Vì có tính mát, giải nhiệt nên thân cây này có thể chữa sốt.

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

Hoa súng

Trong các loài hoa đẹp quen thuộc nhất với người dân Việt Nam không thể không nói đến cây hoa súng, song hành cùng với hoa sen khoe sắc đẹp diệu kỳ mọc hoang dại trong ao, mương, kênh, rạch, giếng nước, bàu trũng khắp mọi khu vực của Việt Nam. Chi hoa Súng (tên khoa học là: Nymphaea) là một chi chứa các loài thực vật thủy sinh thuộc họ súng (Nymphaeaceae). Tên gọi thông thường của các loài trong chi này, được chia sẻ cùng với một số chi khác trong họ này, là súng. Các lá của chi Nymphaea có vết khía chữ V nối từ mép lá tới cuống lá giữa khu vực trung tâm. Chi này có khoảng 50 loài, với sự phân bổ rộng khắp thế giới. Ở Việt Nam hoa súng được mọc nhiều nhất ở vùng Đồng Tháp Mười có nhiều bông súng nhất Việt Nam. Nhưng chưa có tài liệu nào thống kê tại Việt Nam có bao nhiêu loài súng, mặc dù có một số tài liệu nói rằng có khoảng 4 loài hoa súng khác nhau. Trong một số tài liệu có nhắc tới hoa súng lam (Nymphaea stellata = Nymphaea nouchali?), hoa súng đỏ (Nymphaea rubra), hoa súng trắng (Nymphaea lotus = Nymphaea pubescens?).

Hoa súng
Hoa súng Việt Nam
Hoa súng là những viên ngọc trong thế giới thực vật thủy sinh, chúng luôn được ca ngợi vì vẻ đẹp trong trắng và thuần khiết, thường xuyên được thể hiện trong các tác phẩm nghệ thuật hay tôn giáo. Với khả năng tồn tại của hạt súng theo thời gian là rất dài, vào khoảng 2000 năm. Cây hoa súng mọc không hề kén đất, chỉ cần có nước và ánh sáng mặt trời là loài hoa đồng nội này sinh sôi nảy nở. Và thật kỳ diệu nó cũng chẳng phải đợi mùa, lại bất chấp mọi trở ngại, thách thức của thời tiết, dù nắng hè đổ lửa hay ngày đông giá rét, từng bông, từng bông hoa súng vẫn cần mẫn nối tiếp nhau nở rộ quanh năm như ý chí quyết vượt lên số phận, hoàn cảnh khó khăn của mỗi con người. Chính vì vậy hoa súng thuộc vào loài các loài hoa đẹp dễ trồng nhất Việt Nam, biểu tượng của sức sống mãnh liệt, cống hiến hương sắc cho đời hoa súng đem lại mùi thơm dễ chịu (chẳng hạn loài hoa súng thơm Nymphaea odorata) làm cho con người thanh thoát hơn. 
Hoa súng ở Việt Nam có hình dạng hơi khác với các loài hoa súng phương Tây, hoa súng ở Việt Nam có lá đơn, mọc cách. Hoa xếp xoắn vòng, lá đài 4 - 12 (thường 5 - 6) đôi khi có màu và lớn hơn cánh hoa như ở chi Nuphar. Cánh hoa nhiều, xếp lợp (ở chi Nuphar cánh hoa rất nhỏ và có dạng vảy). Nhị nhiều, xếp xoắn. Bộ nhụy gồm 5 - 35 lá noãn, hợp nguyên lá noãn với bầu thượng, trung hoặc hạ. Hoa súng nở hoa cũng rất đặc biệt hoa nở là khoảnh khắc huy hoàng trong môt đời cây cỏ. Song ở không ít loài thảo mộc, sắc mầu rực rỡ mà chúng vừa phô bày cũng lại là dấu hiệu của bước suy vi đã cận kề, vì chẳng bao lâu sau đó các bông hoa này sẽ luị tàn. Nghiệt ngã hơn có khi cả quần thể đồng loại của chúng cũng phải chịu chung số phận. Nhưng ở loài hoa súng lại có cách ứng xử hoàn toàn khác. Cây càng ra hoa, lá càng xanh tốt và bông hoa nở trước như nâng bước, vẫy gọi bông hoa nở sau để cùng nhau làm nên những cánh đồng hoa bất tận. Thật hiếm có loại cây cỏ nào lại có đời sống cộng đồng trường tồn như loài hoa súng giản dị của chúng ta. Tổng cộng hoa súng có 4-6 chi và khoảng 60-80 loài (tùy theo hệ thống phân loại), theo phân loại của nghề làm vườn thì các loài súng bao gồm 2 thể loại chính là: hoa súng chịu rét và súng nhiệt đới. Các hoa loài súng chịu rét chỉ nở hoa vào ban ngày còn các loài hoa súng nhiệt đới có thể nở hoa vào ban ngày hoặc ban đêm cũng như là nhóm duy nhất có chứa các loài súng với hoa có màu xanh lam.
Hai cây hoa đẹp cùng mọc dưới nước, thường được ưa thích ở nước nhà là hoa sen và hoa súng đã được các tạp chí trong nước đề cập nhiều lần. Hoa súng tuy không được kính mến bằng hoa sen, nhưng hoa súng có sự đa dạng hơn hoa sen.

Hoa súng 01
Cánh đồng hoa súng

Các loài hoa súng chủ yếu ở Việt Nam

Hoa súng lam tên khoa học là: N.nouchali Buồm.f… mọc ở ao hồ cũng như ở ruộng nước. Rễ cũ tròn, lá hình thuẫn, bìa hơi có khía, mặt trên phiến lá màu xanh lam đậm. Hoa trắng hay xanh lam đậm, rộng 7 - 15cm tùy nơi, cũng nở vào ban ngày, từ sáng sớm cho đến trưa. Cánh hoa màu xanh lục, với nhiều sọc đen.
Hoa súng đỏ có tên khoa học là: N.rubra. Roxb… hay được trồng trong ao hồ vì lá rộng, cánh hoa đỏ đẹp và đếm được 50 nhụy vàng. Đây là loài hoa súng nở đêm và úp lại vào khoảng 11 giờ sáng.
Hoa súng trắng tên khoa học là: Nymphaea pubescens Wild. L. Rễ củ rất dài và rất to, 15 - 35 cai. Lá như lọng che, bìa răng cưa. Hoa súng này nở vào ban ngày vào buổi sáng tinh sương. Hoa to, 10 - 20cm, cánh trắng hay hồng, có hơn 100 nhụy đực màu vàng.
Hoa súng vuông hay súng chỉ tên khoa học là: N.tetragona George Co là loài súng nhỏ nhất, tìm thấy ở Cần Thơ và ở Đà Lạt. Cũ rễ ngắn, mọc thẳng đứng, màu đen và ăn được. Hoa nhỏ, chỉ rộng 3 cm, nở ban ngày, nhưng chủ yếu nở về xế trưa.
Ngoài ra còn có loài hoa súng lá to, đường kính trên 1m màu đỏ, gân lá nổi bật dưới Lá, bìa lá cong lên phía trên phiến lá, hoa to 20 - 40 cm, nở ban đêm. Đó là loài hoa súng Vương Giả hay súng Mexico, du nhập từ xứ Mexico, Bắc Mỹ Châu rất thích hợp làm hoa trang trí trong khu vườn của bạn.

Hoa súng 02
Hoa súng món quà của thiên nhiên

Hoa súng trong y học

Theo đông y, hoa súng có tác dụng giúp làm dịu dục, chống co thắt, an thần, trợ tim, hỗ trợ hô hấp, tăng cường sinh lực; thường được sử dụng trong các trường hợp tình dục bị kích thích, di tinh, mộng tinh, mất ngủ, tim đập nhanh, kiết lỵ, tiêu chảy, ho, viêm bàng quang, viêm thận, tiểu buốt, tiểu són, đau lưng, mỏi gối do thận yếu.
Các bộ phận của cây hoa súng còn được dùng làm thuốc thanh nhiệt, chống say nắng, cầm máu...đặc biệt, nó còn trị hiệu quả chứng co giật ở trẻ, đau lưng mỏi gối, nam bị di tinh hoặc phụ nữ khí hư bạch đới.
Một số bài thuốc từ hoa súng:
- Chữa hen suyễn ở người già và trẻ em: củ súng và hạt cải củ, hai thứ lượng bằng nhau, đem đồ chín, phơi khô, tẩm nước cốt gừng, tán nhỏ thành bột, luyện với mật ong thành viên hoàn bằng hạt ngô đồng, ngày uống 50 viên với nước sôi. Bài thuốc còn có tác dụng bổ dưỡng, giảm ho, cắt cơn hen. (Theo Bác sĩ Quang Minh).
- Chữa nam di tinh, đái nhiều, nữ khí hư bạch đới không dứt: bài thuốc gồm củ súng sao, kim anh bỏ hạt ở trong vì có độc, lấy lớp vỏ bao ngoài, đốt cho cháy sạch lông gai, sao giòn. Các vị lượng bằng nhau, tán bột uống mỗi ngày 15-20 g với nước sắc rễ ý dĩ làm thang.( Theo Bác sĩ Quang Minh).
- Chữa suy nhược cơ thể, hay đổ mồ hôi trộm, di tinh: củ súng nấu chín, bóc vỏ 400 g. Củ mài nấu chín, bóc vỏ 800 g. Phơi khô tán nhỏ, mỗi lần dùng 10 g nấu thành cháo ăn hằng ngày lúc đói. Bài thuốc này còn có tác dụng bồi bổ, ích chí, mạnh tinh.( Theo Bác sĩ Quang Minh).
- Giải cảm nắng: củ súng nấu chè ăn.( Theo Bác sĩ Quang Minh).
- Chữa thận hư tỳ yếu, đau mỏi ngang thắt lưng: củ súng 20 g, ba kích, cẩu tích, tỳ giải (tẩm rượu sao), hà thủ ô (chế với đậu đen đồ phơi 9 lần), ngưu tất mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.( Theo Bác sĩ Quang Minh).
Với các công dụng tuyệt vời từ cây hoa súng đây làm loài cây dễ trồng không thể thiếu được trong khuôn viên sưu tập các loài hoa hữu ích của bạn.

Chúc bạn thàn công!!!!!
------Sưu tầm----------

Hoa muống biển

Hoa muống biển có tên khoa học là: Ipomoea pes-caprae là một loài thực vật thuộc họ bìm bìm (Convolvulaceae) hoặc có tên dân gian khác như: mã an đằng, nhị diệp hồng thự. Loài hoa đã trở lên quá quen thuộc với những người dân ven biển, với đặc điểm của hoa muống biển có thể chịu được nước và không khí mặn. Là loài cây thảo, sống nhiều năm, mọc bò lan trên mặt đất, cây bò đến đâu, rễ mọc đến đấy. Thân phân rất nhiều cành và tím như thân rau muống ăn, nhưng đặc. Thân có 2 đường rãnh nông, ở hai bên thân, chạy dọc theo chiều dài từ mấu nọ đến mấu kia. Lá mọc so le, phía cuống hình tim, đầu hơi tròn và xẻ thành hai như hình móng chân con trâu. Cuống lá dài, hai mặt đều nhẵn, lá non có 2 mảnh cụp vào nhau. Khi ngắt lá có nhựa đục trắng chảy ra giống như nhựa khoai lang. Hoa lớn, màu hồng tím, giống như hoa rau muống. Quả mang hình cầu, hoa nở vào các mùa hè và mùa thu. Đây là một trong các loài thực vật chịu mặn phổ biến nhất, phân bố rộng rãi nhất và là một trong những ví dụ nổi bật nhất minh hoạ cho các loại cây có hạt trôi theo dòng nước. Hạt giống của muống biển nổi trên mặt biển và không bị nước mặn ảnh hưởng. Ở Việt Nam với chiều dài bờ biển đất nước dài 3260km hoa muống biển cứ mọc tự nhiên, âm thầm song hành với những khó nhọc của người dân biển, nhưng vẫn hào phóng dâng cho đời vẻ đẹp chân quê thuần khiết, hoa muống biển có một sức sống mãnh liệt, giữa vùng khô cằn cát trắng vẫn tươi đẹp như thường, và màu hoa là màu tím, màu tím thuỷ chung. Được ví như đời người phụ nữ vùng biển "đời người phụ nữ như cây rau muống biển, bò lặng lẽ giữa triền cát cháy và khẽ khàng nở những bông hoa tím ngát, chẳng cần ai biết". Hoa muống biển không thuộc các loài hoa đẹp nhưng lại mang những ý nghĩa sâu sắc lắng đọng mà không loài hoa đẹp nào làm được điều thiêng liêng và cao cả đó.

Hoa muống biển
Hoa muống biển

Công dụng trong y học của hoa muống biển

Hỗ trợ chữa phong thấp, khớp xương đau nhức: rau muống biển 45g, rửa sạch đổ 300ml nước, 300ml rượu trắng. Đun sôi, sắc còn 150ml nước, chia 2 lần uống trong ngày. Mỗi liệu trình 10 ngày.
Chữa mụn nhọt (chưa vỡ mủ): rau muống biển 30-60g, rửa sạch sắc với 500ml nước, vặn nhỏ lửa còn 200ml nước và thêm đường đỏ uống. Dùng liền 5 ngày. Bên ngoài dùng cây tươi giã nát đắp vào chỗ da bị tổn thương. Có thể dùng rau muống giã nát đắp bên ngoài 2 tiếng thay băng một lần, đắp liền 5 ngày.
Hỗ trợ điều trị trĩ xuất huyết: rau muống biển 30g hầm với 300-500g lòng lợn; chia 2 lần ăn như thức ăn trong ngày. Dùng liên tục 10 ngày là một liệu trình.
Ngoài ra, khi đi biển bị ngứa do chạm phải sứa biển có thể lấy một nắm rau muống biển giã nát đắp lên chỗ tổn thương rất hiệu nghiệm.

Hoa muống biển 01
Hoa muống biển trong y học


Sự tích hoa muống biển

Có đôi trai gái yêu nhau. Gia đình cô gái rất giàu, còn chàng trai lại rất nghèo. Cha cô gái ra điều kiện: "Nếu đủ lễ vật như yêu cầu sẽ gả con gái cho". Từ đó, ngày nào chàng trai cũng ra biển đánh cá để mong tìm đủ tiền mua lễ vật cho nhạc phụ tương lai. Đến 1 ngày, số tiền đã gần đủ... nhưng trớ trêu thay, chàng trai đã ra đi không trở về vì gặp 1 cơn bão lớn. Cô gái đã khóc rất nhiều và đứng trên bờ biển để đợi mãi, chờ mãi.... rồi kiệt sức và chết. Các vị thần thương, đã biến cô thành "rau muồng biển" và loại rau này luôn mọc hướng ra biển như ý là cô gái muốn ra biển để tìm chàng trai.
Được miêu tả qua bài thơ: “Hoa Muống Biển”
Những chiếc lá hình tim
Thản nhiên nằm trên cát
Nghe sóng xô và hát
Cùng hát với hồn tôi

Ơ ! Vừa mới gặp nhau
Sao mà thân thiết thế
Tôi lại muốn ngồi kể
Về một trái tim xanh

Đã cùng tôi tháng năm
Qua thật nhiều gian khó
Tuổi thơ ấu một thời
Bây giờ bạn ở đâu ?
Tác giả: Lê Khánh Luận
Hoa muống biển 02
Hoa muống biển khoe sắc cùng thiên nhiên

Hoa muống biển loài hoa mang nhiều tâm trạng đã khiến các nhà thơ, nhà văn và bây giờ các nhạc sỹ cũng mất bao nhiêu đêm mất ngủ suy tư về loài hoa này, trong đó có nhạc sỹ Hoàng Phương sáng tác thành bài hát “Chuyện tình hoa muống biển” đã miêu tả chi tiết về chuyện tình hoa muống biển, mời các bạn cùng nghe ca khúc được trình bày của ca sỹ “Ngô Quốc Linh”



Lời bài hát “Chuyện tình hoa muống biển"

Em đến thăm anh mùa vui bên biển
Nụ hoa muống biển rung rinh rung rinh
Chao sóng vỗ về chào em chào em
Làn gió mát ru, triền sóng hát ca
Hải âu tung trời đùa, cá tôm theo thuyền về
Anh kể chuyện tình về biển em nghe.

Thuở loài người có tên trước biển
Và không ai gọi biển như bây giờ
Có chàng trai tên Biển
cùng yêu thương cô Muống chân tình
Biển mải mê bơi tìm luồng cá
Con nước vô tình cuốn biển trôi xa!

Muống âu sầu rồi chết bên bờ
Đời gọi tên từ đó loài hoa, loài hoa muống biển
Đời gọi tên từ đó:
bông hoa trắng xinh xinh, nhụy hoa buồn tim tím
Mùa xuân không về phố bao giờ!
Để đêm đêm nghe biển thức vọng về…

----------Sưu tầm------